Điện dung là đại lượng đặc trưng cho khả năng tích điện của tụ điện khi đặt vào hai đầu một hiệu điện thế. Đại lượng này được xác định bằng thương số giữa điện tích của một bản tụ và hiệu điện thế giữa hai bản:
C = Q / U
Trong đó:
Đơn vị của điện dung là fara (F).
Với người học, cần hiểu đúng bản chất: điện dung không phải lượng điện tích đang chứa, mà là “mức độ dễ tích điện” của tụ điện. Tụ có điện dung càng lớn thì với cùng một hiệu điện thế, nó tích được càng nhiều điện tích.
Một fara là điện dung của tụ điện khi đặt hiệu điện thế 1 V thì tích được điện tích 1 C.
Trong thực tế, 1 F là giá trị rất lớn, nên thường gặp các đơn vị nhỏ hơn:
Ví dụ:
Việc hiểu đơn vị giúp người học dễ xử lý bài tập đổi đơn vị và chọn đáp án nhanh hơn.
Với tụ điện phẳng, điện dung được tính theo công thức:
C = ε x S / d
Trong đó:
Từ công thức thấy ngay điện dung tỉ lệ thuận với diện tích bản cực.
Diện tích bản cực càng lớn thì khả năng chứa điện tích trên bề mặt càng nhiều, nên tụ có thể tích được nhiều điện hơn tại cùng hiệu điện thế. Vì vậy điện dung tăng.
Đây là yếu tố rất hay xuất hiện trong câu hỏi trắc nghiệm dạng: “Muốn tăng điện dung của tụ điện thì phải làm gì?”
Đáp án thường là: tăng diện tích bản cực.
Xét hai tụ điện cùng chất điện môi và cùng khoảng cách:
Ta có:
CB = 2CA
Nghĩa là khi diện tích tăng gấp đôi thì điện dung cũng tăng gấp đôi.
Mẹo cho người học:
Đây là quy luật tuyến tính rất dễ áp dụng trong bài tập so sánh nhanh.
Một trong những yếu tố quan trọng quyết định điện dung của tụ điện là khoảng cách giữa hai bản cực.
Với tụ điện phẳng:
C = ε x S / d
Từ công thức thấy điện dung tỉ lệ nghịch với khoảng cách d.
Điều đó có nghĩa là:
Về bản chất, khi khoảng cách nhỏ, khả năng tương tác điện trường giữa hai bản mạnh hơn nên tụ giữ điện tích hiệu quả hơn. Ngược lại, khi kéo hai bản ra xa, khả năng tích điện giảm.
Đây là dạng kiến thức rất hay gặp trong câu hỏi: “Muốn giảm điện dung của tụ điện thì cần thay đổi yếu tố nào?”
Đáp án đúng thường là: tăng khoảng cách giữa hai bản tụ.
Giả sử ban đầu khoảng cách là d, điện dung là C.
Nếu tăng khoảng cách lên gấp 3 lần:
d′ = 3d
Khi đó:
C′ = ε S / 3d = C / 3
Như vậy:
Mẹo giải nhanh cho người học:
Quy tắc này rất hữu ích trong bài tập trắc nghiệm tính nhanh.
Ngoài diện tích và khoảng cách, điện dung còn phụ thuộc vào môi trường điện môi giữa hai bản tụ.
Trong công thức:
C = ε x S/d
thì ε là hằng số điện môi của chất đặt giữa hai bản.
Hằng số điện môi càng lớn thì khả năng làm tăng điện dung càng mạnh.
Lý do là chất điện môi giúp làm giảm cường độ điện trường nội bộ, từ đó tụ điện có thể tích thêm nhiều điện tích hơn dưới cùng một hiệu điện thế.
Vì vậy:
Đây là nguyên lý được ứng dụng nhiều trong tụ gốm, tụ mica, tụ giấy và tụ hóa.
Giả sử một tụ điện đang đặt trong không khí có điện dung là C.
Nếu đưa vào chất điện môi có hằng số điện môi k = 5, điện dung mới là:
C′ = 5C
Nghĩa là điện dung tăng gấp 5 lần.
Người học cần nhớ nhanh:
Đây là dạng bài tập rất phổ biến trong phần tụ điện và điện môi.

Nhiều người học thường nhìn công thức:
C = Q / U
rồi nhầm rằng điện dung phụ thuộc vào điện tích Q. Đây là một nhầm lẫn rất phổ biến.
Thực tế, điện dung là đặc trưng cấu tạo của tụ điện và môi trường điện môi, nên khi tụ đã xác định hình dạng và vật liệu thì giá trị C là không đổi.
Khi điện tích Q tăng thì hiệu điện thế U cũng tăng đúng theo cùng tỉ lệ, nên thương số Q/U vẫn giữ nguyên.
Vì vậy:
Người học cần nhớ:
Tương tự, điện dung cũng không phụ thuộc trực tiếp vào hiệu điện thế đặt vào hai đầu tụ.
Khi tăng hiệu điện thế:
Do đó tỉ số:
Q / U
vẫn không đổi.
Điều này đúng miễn là tụ điện còn hoạt động trong giới hạn điện áp cho phép, chưa bị đánh thủng điện môi.
Mẹo nhớ nhanh:
Sai lầm thường gặp nhất là đồng nhất:
Ba đại lượng này liên hệ với nhau nhưng ý nghĩa hoàn toàn khác:
Ví dụ:
Cùng một tụ điện:
Đây là bẫy rất hay gặp trong câu hỏi trắc nghiệm lý thuyết.
Người học có thể nhớ nhanh theo 3 ý:
Và một nguyên tắc cực quan trọng:
Câu thần chú dễ nhớ: Cấu tạo quyết định C, trạng thái nạp quyết định Q.
Muốn điện dung tăng, có 3 cách cơ bản:
Ví dụ câu hỏi:
“Biện pháp nào sau đây làm tăng điện dung tụ điện phẳng?”
Người học chỉ cần đối chiếu 3 quy tắc trên là chọn nhanh được đáp án.
Ví dụ:
Khi đó:
C′ = 2 × 2 × 3 × C
C′ = 4 × 3 × C
C′ = 12C
Suy ra điện dung tăng 12 lần so với ban đầu.
Dạng bài này yêu cầu người học ghép đồng thời nhiều yếu tố, rất phù hợp để luyện tư duy công thức.
Phần cốt lõi cần nhớ là: điện dung của tụ điện phụ thuộc vào diện tích bản cực, khoảng cách giữa hai bản và hằng số điện môi. Khi hiểu đúng bản chất này, người học sẽ tránh được lỗi nhầm giữa điện dung với điện tích và hiệu điện thế trong mọi bài tập liên quan.
Có. Hình dạng bản cực quyết định trực tiếp diện tích phần đối diện hữu hiệu, nên sẽ ảnh hưởng đến điện dung. Trong chương trình phổ thông, yếu tố này thường được quy về diện tích bản cực S.
Vì khi điện tích tăng thì hiệu điện thế cũng tăng theo cùng tỉ lệ, nên tỉ số (Q/UQ) / (UQ/U) giữ nguyên. Điện dung chỉ thay đổi khi cấu tạo hoặc điện môi của tụ thay đổi.
Khi bị nén, khoảng cách giữa hai bản giảm nên điện dung tăng. Đây là hệ quả trực tiếp từ quan hệ tỉ lệ nghịch giữa điện dung và khoảng cách bản cực.
Trong bài toán lý tưởng phổ thông thường bỏ qua. Thực tế, nhiệt độ có thể làm vật liệu điện môi biến đổi nhẹ, từ đó điện dung thay đổi nhỏ theo đặc tính của từng loại tụ.
Không hoàn toàn. Tốc độ nạp còn phụ thuộc điện trở mạch ngoài. Điện dung lớn chủ yếu cho phép tụ chứa được nhiều điện tích hơn ở cùng hiệu điện thế.